Thoát[X]

Lận đận lắm…cuộc đời ông tôi

Cuộc đời của bạn đã trải qua như thế nào? Có lẽ, không ít người khi gặp phải câu hỏi ấy đã không khỏi suy ngẫm, trầm tư! Và với một cuộc đời đã hơn 60 năm lam lũ, khó nhọc, chạy cơm từng bữa, chạy thuốc từng thang và … chạy giặc từng giây của ông tôi thì ắt hẳn… lắm vị!

Ảnh minh họa

Một đời lam lũ, vì nghèo, ông tôi phải lặn lội bương chãi vì miếng cơm, manh áo ngay từ lúc nhận thức được cảnh nhà. Ngày ngày, trên mảnh đất nhỏ miền quê nghèo đồng khô cỏ cháy, ông mò từng con cua, con ốc, chao từng con tép và bắt từng con cá. Ông hái từng ngọn rau lang, rau muống, rau nhút, rau mác ven đê. Ngày qua ngày, những con mương, con đê như những người bạn đồng hành cùng bước chân trĩu nặng âu lo của ông, nhất là lúc chiều tà- khi khói lam chiều nghi ngút lên thôi thúc đôi tay kia nhanh hơn nữa, tìm thêm chút gì cho bữa cơm quê, giục đôi chân kia nhanh hơn nữa để về với gia đình, về với mái nhà tranh vách lá cột xiêu. Thỉnh thoảng, ông đi xé lá chuối đem bán cho những bác hàng xôi, lúc để đổi xôi, khi thì đổi tiền mua gạo. Cuộc sống vất vả là vậy, nhưng ông tôi được cái rất siêng năng và rất đỗi thông minh. Mỗi tối, ông đến lớp “bình dân học vụ” trên đình để học chữ. Mà inh như cái chữ nó bén duyên với ông hay sao mà ông học đến đâu là thạo đến đó. Học xong buổi tối, hôm sau tranh thủ lúc rỗi rãnh, ông dùng cọng dừa chuốt đầu nhọn làm viết, lấy là chuối tươi phơi héo làm giấy. Ấy thế mà những chữ ông viết ra đẹp lạ thường, nét thanh nét đậm rõ ràng, đều nhau như chữ in của người Pháp lúc bấy giờ. Thế rồi, lúc ông đến tuổi đi lính, theo lệnh nhập ngũ cũng là lúc bọn thực dân tràn vào bờ cõi của Tổ quốc thiêng liêng. Không còn nữa dòng kênh xanh mỗi chiều ông tắm mát. Không còn những con mương, con rạch nơi ông vẫn hằng ngày mò cua, bắt ốc. Không còn nữa những bờ chuối xanh tươi, tiếng dơi quạ kêu “kin kít”, tiếng “bịp bịp bịp” inh ỏi mỗi lúc nước lên. Không còn nữa bầu trời xanh trong, gió lộng vun vút những cánh diều, những cánh vạc bay lúc tà dương. Mọi thứ trở nên tiêu điều, bi luỵ vì bom, đạn, mìn, pháo của bọn thực dân ác ôn. Giờ đây, sông màu máu, cây xơ xác, nhà ngập khói, đồng rực lửa, không còn tiếng cười của đám trẻ con chơi trốn tìm, thay vào đó là tiếng nấc đau thương hoà cùng dòng lệ tuôn tuôn và tiếng thét não lòng “cha ơi…mẹ ơi…đừng bỏ con…tội con…”. Lớp học tình thương mỗi tối ông tôi học giờ là nhà tù, là ngục thất.

Còn ông tôi, đi nhập ngũ không lâu thì bị bắt, nhưng nhờ chữ đẹp, nhờ tài cao nên được bọn thực dân giữ lại làm người ghi chép đơn từ. Cứ thế ông được lòng bọn ấy. Rồi cứ vận dụng tài của mình, mỗi lúc đi chợ, ông giấu trong người một tấm thư bằng lá chuối héo truyền tin bí mật cho cách mạng. Có nhiều lúc bị phát hiện, nhưng giặc không nghi ngờ vì cứ ngỡ ấy là rác vì có ai lại dùng lá viết thư bao giờ. Cứ như vậy, ngày này, tháng nọ, năm kia, ông đã giúp cách mạng địa phương giành được nhiều thắng lợi. Dĩ nhiên, bọn giặc không khỏi nghi ngờ ông nhưng chúng lại không có bằng chứng. Nhưng… mọi chuyện dừng lại từ lúc tên gián điệp phát hiện ra ông. Ông bị giam, bị hành hạ, đánh đập đến nỗi còn xác, mất hồn.

Đèn trời soi xét, Cụ Hồ anh minh, Kháng chiến giỏi giang đã cứu ông sau thắng lợi vang dội của cuộc Cách mạng tháng Tám. Từ đó về sau, ông vẫn tiếp tục công việc viết đơn từ, nhưng lúc này là đơn từ cho kháng chiến và viết bằng chữ Quốc ngữ, cái chữ mà ông đã không được thấy nhiều lúc làm bên bọn thực dân hung bạo. Rồi duyên phận đẩy đưa ông đến với bà tôi, dù là ép duyên nhưng ông bà vẫn rất hạnh phúc. Cuộc sống không khá hơn khi những đứa con lần lượt ra đời. Nhưng ông vẫn một lòng dạy con chữ ĐỨC, vì ông tâm niệm, có ĐỨC mới thành TÀI. Thật vậy, ông đã dạy hai người con trai lớn nên vóc nên hình, một làm dân quân du kích, một làm công an địa phương. Và lần lượt những người con thứ cũng học đến lớp 11, 12.

Niềm vui chưa đầy mà nỗi buồn lại kéo đến. Bom Mĩ đã cướp đi người con trai trưởng của ông trong một chiều chèo ghe đi giăng lưới. Anh dân quân ấy ra đi khi đang tuổi xuân xanh- tuổi 16. Đau đớn xé lòng, ông bà cố ghìm chặt nỗi đau trong niềm uất hận bom đạn bọn quân Mĩ ác độc. Ông vẫn việc viết thư và vì thông thạo đường xá, kênh rạch nên ông kiêm luôn việc truyền tin. Còn bà thì tham gia vào việc nuôi giấu cán bộ. Các anh cán bộ, các chị dân quân rất thương bà và thường gọi bà là “Má”. Có lẽ, điều đó đã phần nào giúp bà nguôi ngoai nỗi đau mất con. Rồi một lần nữa, lửa chiến tranh lại bùng cháy vào mái nhà tranh nhỏ chưa vơi đau thương này. Bom mìn quân thù rơi trúng vào ngôi nhà ấy và vô tình mảnh bom văng ra ghim vào khuỷu tay, nhưng may mắn vẫn mỉm cười với gia đình khi mọi người đều bình an nhờ căn hầm bí mật phía dưới nhà.

Kháng chiến thành công, nước nhà độc lập, ông bà cùng gia đình nhỏ tản cư về vùng ruộng đồng hoang sơ của đất Đồng Tháp khai hoang, cày cấy, trồng trọt, cuộc sống dần ổn định. Tuy nhiên, ông lại muốn về lại quê nhà Tiền Giang, nơi cây lành trái ngọt, nơi kênh rạch đầy ắp kỉ niệm thân thương thuở ấu thơ. Và thế là, ông bà dắt người con thứ hai về, gửi lại mấy đứa nhỏ cho người em chăm sóc. Một thời gian sau, ông bà cất nhà và lần lượt rước sấp nhỏ về ở chung. Cuộc sống tưởng như thoải mái, yên ổn rồi nhưng một lần nữa, quan liêu, bao cấp lại làm khó cả nhà. Bao nhiêu công sức đổ ra để có lúa gạo mang về nhà đều bị bọn ấy chặn ngang cướp ngược. Mười giạ lúa chở về được đến nhà chỉ còn độ hai, ba giạ mà thôi!

Cuộc sống bấp bênh tưởng như khốn cùng, tăm tối, đến lúc phải ăn cháo loãng, khoai luộc thay cơm, bản thân mình ngày một gầy gò, xanh xao nhưng ông vẫn nhất quyết dạy con cháu mình dù cho cực, khổ, đói, rách cũng không được trộm cắp của người ta. Lúc cả nhà đỡ phần khó nhọc chính là lúc quan liêu, bao cấp chấm dứt. Nhưng ông bà vẫn chăm chỉ hằng ngày vượt hơn 20 cây số để chăm cho mảnh ruộng, vun đắp một cuộc sống no ấm hơn. Lúc đổ bệnh ông cũng chỉ cháo trắng, kho quẹt, thuốc nam đắng chát. Lúc nào ông cũng chỉ tiết kiệm, làm lụng quần quật vì vợ con. Ước mong cả nhà được ấm no, sung túc.

“Khổ tận cam lai”! Rồi cũng đến lúc gia đình thật sự ấm no, sung túc, con cái thành gia lập thất cả, ông bà cũng có cháu nội, cháu ngoại ẵm bồng. Men hạnh phúc đang ngập tràn trong ngôi nhà ba gian, vách tre, mái lá, rộn rã tiếng cười nói trẻ thơ, tiếng xay bột đều đều từ chiếc cối đá nặng, mùi bánh lá thơm ngào ngạt hoà cùng vị béo ngậy của nước cốt dừa…Bỗng dưng, mọi thứ tắt lịm đi từ lúc cơn bạo bệnh – u bàng quang hút dần sức khoẻ của ông. Con quỉ dữ ấy ngày ngày đoạ đày thân ông, hút mòn dần da thịt ông. Mái nhà hạnh phúc ấy liệm đi bởi người chạy ngược, kẻ chạy xuôi làm lụng chạy thuốc thang, người thì tất tả vào bệnh viện chăm sóc ông. Một thời gian sau, bác sĩ nói ông có thể về nhà tịnh dưỡng, cả nhà thực sự rất vui mừng vì cứ ngỡ ông sẽ bình phục để sum họp với con cháu. Thật sự, mấy ngày đầu ông về nhà, ông rất tươi tỉnh, mặc dù đi ngoài vào chiếc túi đeo bên hông nhưng ông vẫn chơi đùa cùng con cháu. Mỗi tối, có thầy thuốc đến vào nước biển cho ông. Nhìn thần sắc ông tốt hơn, ai nấy đều an tâm, ai về việc nấy, chỉ có hai người ở nhà với ông mỗi ngày. Rồi cái ngày ấy, cái ngày trời xanh mây trắng, nắng nhẹ, gió mát ấy, ông được truyền hai chai nước biển. Chai đầu tiên truyền ông vẫn vui vẻ, bình thường. Đến chai thứ hai, ông bỗng khó thở, trợn mắt, tay chân run rẩy và dần dần lặng đi và trút hơi thở cuối cùng. Hai người con rối quá, chạy đi và hô toán lên báo cho bà và những người khác. Thế là, chẳng ai nhìn được mặt ông lần cuối và cũng chẳng có ai biết ông có trăn trối điều gì không.

Thế đấy! Cuộc đời của ông tôi là thế đấy. Cả cuộc đời sống trọn vẹn vì nhân nghĩa, vì đạo đức. Một cuộc đời vị tha, lam lũ. Tuy nhiên, chẳng ai biết ông có tâm nguyện gì muốn con cháu thực hiện hay không. Nếu bạn hỏi “Cuộc đời ông trải qua như thế nào?” Thì tôi xin đáp rằng, dù chưa trọn vẹn với bản thân nhưng ông tôi đã sống trọn vẹn cuộc đời của mình cho gia đình, cho quê hương, đất nước. Ông đã trải qua những gì đau đớn nhất, xót xa nhất. Và ông đã để lại cho đời sau chữ ĐỨC- điều mà đời đời con cháu phải khắc ghi lời dạy từ ông!

Nhung Nguyễn

Loading...

One Response

  1. NhungNguyen NhungNguyen 25/09/2017

GÓP Ý BÀI VIẾT

wau